Độc đáo câu Cắm tặt
(LV) - Trong kho tàng văn hóa dân gian của người Tày Nghĩa Đô (Lào Cai), câu Cắm tặt (tục ngữ) đã bao đời nay được hình thành tồn tại và phát triển song hành trong cuộc sống thường nhật của người bản Tày.
Câu cắm tặt là tục ngữ của người Tày có từ rất lâu đời, chẳng biết có từ bao giờ. Đó là những câu nói có một chút vần nhịp của người bản Tày tự sáng tác và sử dụng trong cuộc sống lao động để nói lên ý nghĩ, kinh nghiệm và những bài học trong cuộc sống.
Vốn tục ngữ của người Tày Nghĩa Đô khá phong phú. Theo nghệ nhân Ma Thanh Sợi - Người Tày Nghĩa Đô, hiện nay mới chỉ tìm tòi, bước đầu mới sưu tầm được 304 câu. Vì là thứ văn chương truyền miệng của người bình dân nên hiện nay, nguồn văn hóa ấy chỉ được lưu giữ qua những nhân chứng sống.
Tuy là những câu thơ không chút vần vè, không chút ảnh hưởng của văn chương bác học nhưng câu từ và sự lập luận lại rất khéo léo, mang mô típ, dị bản của câu tục ngữ Việt Nam. Điều đặc biệt là tất cả chất liệu, đặc trưng lời nói và đối tượng của câu cắm tặt ở Nghĩa Đô đều mang trong nó hơi thở, suy nghĩ và lối sống của người bản Tày nơi đây.
Cắm tặt là câu nói của người bình dân, mục đích câu tục ngữ hướng tới là những kinh nghiệm trong lao động sản xuất. Người Tày đưa ra những lý lẽ để lý giải, để dạy bảo con em, để khuyên bảo nhau trong cuộc sống thường nhật. Có kinh nghiệm trồng lúa, chăn nuôi làm sao cho cây trái tươi tốt, rồi cả những kỹ năng sống cũng được người Tày gửi gắm vào câu tục ngữ của mình.
Ngày xưa trình độ sản xuất của người Tày chưa phát triển nên có hiện tượng, người không có kinh nghiệm cứ vội thì làm bừa, cốt xong việc, nhưng có khi vừa mất công lại mất của: Nắng sớm chớ vội giặt chăn/Làm ruộng chớ mang theo nghé.
Trong lao động sản xuất cũng có quy luật, không phải cứ chăm chỉ làm là được. Ngày xưa, người ta cậy khoẻ, cậy có nhiều đất, cứ mặc sức mà làm nên chỉ lấy công làm lãi. Để nhắc nhở nhau, người Tày nghĩ ra câu: Công cấy là công bỏ/Công làm cỏ mới là công ăn. Người Tày cũng truyền lại kinh nghiệm thâm canh, chọn đất tốt, trồng cây gì và nuôi con gì cho phù hợp. Các cụ đã đặt thành câu: Ao sâu thả cá giống/Ruộng chủ cấy nếp thơm/Ruộng trước nhà cấy nếp cái/Làm ít được nhiều, đầy bị nhà này.
Nhà nông sản xuất mang tính tự túc, tự cấp, lúc gặt mùa, đưa lúa vào kho, thường chủ quan, dùng bừa bãi, cho gà lợn ăn đến no cũng không tiếc rồi đến vụ giáp hạt lại phải đi kiếm cái ăn, dùng mọi của cải đi đổi cái ăn, có được cái ăn, cứu được đói thì lại nghèo sơ sác: Có lúa không biết ăn cũng đói/Có mồm không biết nói cũng ngu; Biết cách ăn có ít cũng no/Biết nằm co, chăn ngắn vẫn ấm.
Người Tày lao động vất vả mới làm được sản phẩm tiêu dùng, họ có quyền tự hào với sản phẩm mang tính cách của dân tộc mình. Cái quyền tự hào đó thật đáng để xã hội trân trọng. Câu tục ngữ của người Tày nói lên được đời xưa các cụ đã thấu hiểu và quí trọng, cái bản chất ấy: Kinh khen mắm người kinh ngẫu/Tày khen gạo nếp người Tày trắng/Mán khen quả đu đủ mán to/Mèo khen vải lanh mèo tốt.
Người Tày Nghĩa Đô cũng đã nghĩ ra nhiều cách giáo dục để con cái trở thành con người có ích. Những câu tục ngữ, dân ca, mới nghe có vẻ đơn giản nhưng càng suy ngẫm càng thấy giá trị. Con người ngồi đầu thuyền vắt vẻo/Con mình ngồi đầu cối ngã lăn; Đời bố cưỡi ngựa vào cổng/Đời con cưỡi lợn vào chuồng/Đời cháu lăn ống cây giữa đường.
Cứ như vậy, đời đời, kiếp kiếp, trong cuộc mưu sinh lâu dài của người Tày trên miền đất núi non trung điệp, những câu tục ngữ đã và đang xuyên thấm vào tâm hồn, vào lời ăn tiếng nói của người dân bản Tày.
Nguyễn Thế Lượng