Từ di sản thế giới đến di sản toàn dân
(LV) - Chúng ta lại tràn ngập niềm vui với Vịnh Hạ Long- kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Người Việt nào chưa đặt chân đến Hạ Long, chưa "nháy con dế" lúc bình chọn cho Hạ Long, nghĩ cũng đáng… được phê bình không oan ức.
 |
Hát xoan cũng vừa được công nhận di sản văn hóa thế giới. Cho đến nay ta đã có 16 di sản và kỳ quan thế giới. Công sức của ngành văn hóa lớn lắm. Nếu so với các ngành khác thì rõ ràng là nhiều "huy chương vàng" hơn hẳn. Những di sản thiên nhiên, vật thể như Hội An, Cố đô Huế, Hạ Long, Phong Nha, Cao nguyên đá Hà Giang… khi được tôn vinh chúng ta đều vừa "mình phục mình quá" vừa khen UNESCO quả là có con mắt tinh đời, chọn được vàng ngọc trong đá. Mặc dù chúng ta cũng còn áy náy là các di sản này có lúc, có nơi chưa được chính người Việt giữ gìn cẩn thận. Là người "trong chăn" ta thấy còn đá lẫn trong vàng. Ngoài việc ta chưa đủ tài lực để tôn tạo, bảo quản các di sản vật thể, còn có việc lạm dụng di sản để kinh doanh du lịch quá đà khiến môi trường bị ô nhiễm, làm giảm vẻ đẹp tự nhiên của di sản. Ý thức người dân đối với các di sản khiến những người nặng lòng với đất nước cứ thấp thỏm chuyện "cầm vàng còn để vàng rơi"…
 |
Đối với các di sản phi vật thể đúng là còn nhiều điều muốn nói. Có người không hiểu "mộc bản triều Nguyễn" có nội dung gì? Hay chỉ là các bản khắc chữ Nho được cất giữ cẩn thận đến ngày nay. Lễ hội Phù Đổng khi tái diễn vẫn còn có sai sót so với nguyên bản cổ truyền. Quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế đâu phải cả nước đã biết cái hay, cái đẹp, ngoại trừ khi được giới thiệu trên tivi.
Xin nhắc lại một việc gần đây nhất là ca trù. Hội diễn ca trù toàn quốc 2011 vừa "thành công tốt đẹp" nhưng dư âm gần như buồn nhiều hơn vui. Qua hội diễn mới thấy vắng người hát, càng vắng người nghe. Lối hát truyền khẩu khiến ca trù khó phát triển vì "các thầy đã quá già, con hát lại quá trẻ". Một môn nghệ thuật không có sách giáo khoa. Đó là chưa thấy ai nói kỹ về ý nghĩa xã hội của ca trù, vốn là hát cô đầu xưa với phương thức biểu diễn rất hạn hẹp trong giới ăn chơi của nhà giàu, nhà sang, nên tính phổ biến không cao, chưa kể, như các cụ truyền lại nghề cô đầu ngoài chuyện hát xướng tom chát, còn có cả yếu tố… "du lịch tình dục". Các ông Tổng, ông Lý, ông Phán, ông Ký thuê cô đầu về "hát qua đêm" là chuyện bình thường. Chuyện này xưa rồi, chính chúng ta ngày nay đã phát huy tinh hoa của lối hát ca trù, gột rửa yếu tố tiêu cực, như nhà thơ Tố Hữu đã rửa sạch "muôn lớp đời dơ" cho cô gái sông Hương và nói với cô đào hát trên đò: "Ngày mai muôn lớp đời dơ/ Sẽ tan như ánh mây mờ đêm nay/ Cô ơi tháng rộng ngày dài/ Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng".
 |
Ca trù trở thành loại hình ca nhạc độc đáo, di sản văn hóa chứ không phải di chứng lối sống của tầng lớp trên ngày xưa. Nhưng muốn bảo tồn và phát triển ca trù cần có… tiền. Tuồng chèo còn khó bán vé thì ca trù còn khó hơn bội phần. Ca trù, hát xẩm so với tuồng, chèo, quan họ… là "văn hóa ngoài quốc doanh" nhưng lại là đặc sản quốc gia. Ngày còn bé làng tôi các ông Tổng, ông Lý vẫn chơi cô đầu. Dân có ca dao "Cô đầu cô đít cô đuôi/ Ông Tổng đi vắng ai nuôi cô đầu". Cũng có ý ca trù là hàng hóa, "đồ chơi" của nhà giàu. Nay cô đầu đem ra phục vụ đại chúng theo kiểu chiếu chèo quả là gặp khó vì không có "fan", chỉ vài ông tây tò mò, cán bộ nhân dân chưa thấy có chuyện mua đôi vé rủ người yêu hay bà xã đi hát cô đầu. Có ai hiểu gì đâu mà nghe. Hát xoan cũng chỉ phổ biến ở Phú Thọ. Có người nói ta đang có bệnh thành tích chạy đua di sản. Cứ cho là tốt đi, nhưng tốt hơn là cần có chính sách nuôi dưỡng. Chúng ta đâu phải "ông Tổng" khi có việc hỷ, lúc cơm no rượu say mới đón giáo phường về phục vụ. Cần biến di sản đất nước thành di sản toàn dân sau khi đã là di sản thế giới.
Nhà báo Trần Đức Chính