Những cây thuốc mang tên "Rồng"
(LV) - Những cây thuốc mang tên "Rồng" không chỉ do một phần hình dáng giống hoặc liên quan tới con vật linh thiêng tên Rồng mà còn bởi những tác dụng quý, hiếm.
Long nhãn
Còn có tên là á lệ chi thuộc họ bồ hòn. Sở dĩ mang tên long nhãn vì trái nó giống mắt con rồng. Cây Long nhãn cao từ 5 - 7m, lá rườm rà, vỏ xù xì, sắc xám, có nhiều cành nhiều lá um tùm. Cây long nhãn ra hoa vào mùa xuân, mọc thành chùm ở đầu cành hay kẽ lá. Quả màu vàng sậm hay vàng xám, hạt đen nhánh.
Long nhãn có tác dụng bổ tâm tỳ, an thần, nuôi huyết. Hạt long nhãn chữa các chứng lở loét hay bị đứt tay (đem tán nhỏ rồi rắc vào vết thương). Những người đầy bụng kém ăn không nên dùng long nhãn.
Long đởm thảo
Thuộc họ long đởm (Long: rồng, đởm: mật). Đây là vị thuốc trông giống râu rồng và có vị đắng như mật. Long đởm thảo là một loại cỏ sống lâu năm, cao từ 30 – 60cm. Thân rễ yếu nhưng nhiều, có vỏ màu vàng nhạt. Thân mọc đứng, đơn độc hay có đôi, ba cành. Lá mọc đôi, không cuống, hoa hình chuông màu lam nhạt hay sẫm mọc từng chùm. Mùa ra hoa từ tháng 8 đến tháng 10 và thu hái quả vào mùa xuân năm sau. Cỏ long đởm có vị đắng, có tác dụng thanh hạ, tiêu thấp nhiệt, long đởm thảo dùng làm thuốc giúp cho sự tiêu hóa và đại tiện dễ dàng. Ngoài ra còn chữa sốt, đau mắt và an thần kinh.
Tử kim long
Còn gọi là hoạt huyết đan, hổ trượng căn thuộc họ rau răm. Đây là loại cây nhỏ sống lâu năm, thân mọc thẳng, cao từ 0,5 - 1m, có nơi mọc cao tới 2m. Trên thân và cành có những điểm màu tím hồng. Lá mọc so le có cuống ngắn. Phiến lá hình trứng, hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Cành hoa màu trắng.
Cây kim tử long mọc hoang ở nhiều nơi, đặc biệt ở SaPa. Cây ra hoa từ tháng 8 đến tháng 9 âm lịch và thu hoạch quả vào cuối năm, đào về, cắt bỏ hết rễ con,rửa sạch đem cắt thành từng mẫu nhỏ rồi thái mỏng, sau đó phơi khô.
Tử kim long là vị thuốc chữa tê thấp, lợi tiểu, giảm đau nhức, giải độc, dùng cho những người bị kinh nguyệt bế tăc, bụng trướng, tiểu tiện khó khăn.
Vảy rồng
Còn có tên là kim tiền thảo, thuộc họ cánh bướm. Cây vảy rồng cao từ 30 – 50cm, ngọn non có lông tơ bao phủ màu trắng. Lá mọc so le gồm một hai lá chét tròn, dài từ 2 – 3cm, do đó có tên là đồng tiền, mặt dưới có long trắng mọc. Hoa màu tía mọc thành chùm cho quả từ tháng 3 đến tháng 5 âm lịch.
Cây vảy rồng mọc hoang dại trên các gò đồi vùng núi và trung du. Cây này chữa được bệnh sỏi túi mật, sỏi thận, sỏi bàng quang, các bệnh về thận, khó tiêu hóa, phù thủng.
Móng lưng rồng
Còn gọi là vạn niên trùng, hồi sinh thảo, hoàn dương thảo. Thân cây mọc thành bụi, tỏa ra nhiều cành, phân nhánh tỏa ra trên mặt đất. Lá nhỏ, hình giáo, hay ba cạnh xếp lên nhau ôm lấy cánh có dạng như cây liễu bách. Cây chịu đựng được khô hạn. Khi khô ráo cành lá xếp lại cuộn tròn vào trong như chân vịt do đó còn gọi là cây chân vịt. Khi gặp ẩm ướt cành lại mọc vươn ra ngoài nên còn gọi là hồi sinh thảo (cây cỏ sống trở lại).
Cây móng lưng rồng mọc hoang dại ở vùng duyên hải Khánh Hòa và Ninh Thuận. Thân cây đem về cắt bỏ rễ, dùng tươi hay phơi khô. Thân cây đem tán bột trộn với lòng trắng trứng gà đắp lên nơi bị bỏng lửa, chữa được chứng ho ra máu, đại tiểu tiện ra máu, kinh nguyệt phụ nữ quá nhiều và các chứng bệnh chảy máu khác.Ngoài ra, cây móng lưng rồng còn chữa chứng vàng da, vàng mắt và viêm gan.
Xương rồng
Còn gọi là Bá Vương Tiêm thuộc họ thầu dầu. Thân cây xương rồng cao tới 5 – 6m, phân làm nhiều cành, chứa nhiều nước. Cành có ba mặt lồi, lá kim biến thành gai ít và nhỏ, hoa mọc thành tán, ra hoa tán, ra hoa vào mùa xuân.
Cây xương rồng mọc hoang thành bờ giậu hay thành từng bụi ở gò. Nhựa cây rất độc được pha chế với nhiều vị thuốc khác để chữa đau bụng, tháo nước nhưng khi dùng phải cẩn thận. Còn cành xương rồng đem cạo bỏ hết gai, nướng chín giã lấy nước ngậm khi đau răng.
Nguyễn Văn Thanh