Gieo duyên cho “người rừng” và lúa nước
(LV) - Đầu tháng 11/2011, chúng tôi có chuyến trở lại với đồng bào Rục ở xã Thượng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình sau đợt lũ kép do hai cơn bão số 4 và số 5 gây ngập lụt kéo dài. Chuyến đi này không phải là cứu trợ, mà là cùng bộ đội biên phòng và dân bản gặt lúa vụ hè thu.
Câu chuyện tưởng như cổ tích rằng giữa vùng lõi núi đá vôi giăng kín lại có hơn 10ha lúa nước đang kỳ thu gặt. Bài viết này hòng kể một chút đến người “gieo duyên” giữa “những người rừng” và cây lúa nước - bộ đội biên phòng.
 |
|
Cậu bé Hồ Lức tham gia gặt lúa cùng mọi người. .
|
Gian nan những cuộc “ly cốc, hạ sơn”
Theo hồ sơ còn lưu lại của Bộ đội Biên phòng Quảng Bình thì vào khoảng những năm 1958 - 1959 đã có lời đồn về “người nguyên thuỷ” ở miền tây Quảng Bình. Ngay những ngày đầu thành lập lực lượng công an nhân dân vũ trang (CANDVT - nay là bộ đội biên phòng), tổ tuần tra biên giới Đồn CANDVT Óc Sách đã phát hiện một nhóm người lạ, khi thấy chiến sĩ, họ bỏ chạy tán loạn vào rừng sâu lẩn trốn.
Sau gần 5 tháng lăn lộn ở rừng già phía tây, đương đầu với núi cao, thú dữ, ngày 12.9.1959, một tiểu đội của Bộ đội Biên phòng Quảng Bình đã phát hiện ra tung tích của những “người rừng”. Và sau đó, qua rất nhiều lần bỏ chạy của “người rừng”, bằng sự quyết tâm của bộ đội, bằng sự giúp đỡ của các già làng, trưởng bản của dân tộc Chứt, 34 người Rục (một nhóm người của dân tộc Chứt) đã được phát hiện trong hang sâu của “hoang mạc đá vôi” Phong Nha - Kẻ Bàng và được thuyết phục về ở chung tại xã Thượng Hoá, huyện Minh Hoá.
Những cuộc “ly cốc”, “hạ sơn” của đồng bào Rục từ khi phát hiện đến rất nhiều năm sau vẫn còn lắm vất vả. Còn nhớ, khoảng năm 1972, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá mở rộng chiến tranh. Người Rục một lần nữa lại bị rơi vào quên lãng. Năm 1989, trận dịch sởi đã cướp đi 20 sinh mạng của đồng bào, có nhà không còn ai. Do sợ hãi, người Rục lại bỏ bản làng lên những hang đá sâu tiếp tục sống lại đời nguyên thuỷ. Cũng đã có những lần như năm 2000, có 11 hộ đã bỏ bản theo “tiếng gọi nơi hoang dã” vì bản năng “người rừng” chưa thoát thai hết. Những lần như vậy, bộ đội biên phòng, lãnh đạo xã lại cất công lặn lội lên hang sâu vận động bà con trở về.
Bây giờ, theo chân lên thăm lại những hang đá khi xưa mình ở, ông Cao Tiến Thuỳnh (56 tuổi, Bí thư chi bộ bản Mò o ồ ồ) còn ớn lạnh: “Lúc đó chúng tôi chỉ có bột nhúc (vỏ cây đoác và cây đùng đình giã ra, lấy chỗ bột tơi hoà với nước nấu lên) là thức ăn chủ yếu. Thực phẩm thì dựa vào săn bắt, hái lượm. Khố che thân được lấy từ vỏ cây sui. Cuộc sống không biết đến ánh sáng...”.
Hiện, tất cả người Rục đều được đưa về định cư tại hai bản Mò o ồ ồ và bản Ón thuộc xã Thượng Hoá. Từ khi phát hiện với 34 người, đến nay đã phát triển lên 108 hộ với 427 nhân khẩu. Bây giờ, người Rục đã gần như quên hết cuộc sống hoang dại trên núi cao. Họ đã được đi học, ăn ở trong những ngôi nhà khang trang, sống cùng nền văn minh lúa nước... nhờ sự giúp đỡ rất nhiều từ bộ đội biên phòng Đồn 585.
Lúa nước lên non
Trung tá Trịnh Thanh Bình - Đồn trưởng Đồn biên phòng 585 - kể lại: “Năm 2009, sau những khó khăn đã trải qua trong cuộc chinh phục bà con ổn định đời sống nơi thung lũng, chúng tôi đã quyết định thử nghiệm trồng 2ha lúa nước nhằm đi tới việc giải quyết lương thực tại chỗ cho bà con. Rất bất ngờ là cây lúa phát triển ổn định. Năm 2010, Bộ Chỉ huy biên phòng tỉnh đã có kiến nghị lên UBND tỉnh và được chấp thuận dự án lúa nước Rục Làn với quy mô 10ha.
Nay, cánh đồng lúa nước vàng hươm trước Đồn 585 là minh chứng cho sự thành công của một dự án táo bạo và quyết liệt. Ngày chúng tôi lên, rất đông bà con dân bản cùng bộ đội biên phòng hăng say thu gặt lúa. Nhiều em nhỏ tưởng như chỉ biết cầm cây rựa phát rẫy, đôi chân chai sạn sục sạo trên những lèn đá cao, thì nay cầm cây liềm rất đúng điệu”. Ông Hồ Đòi (55 tuổi, ở bản Mò o ồ ồ) tâm sự: “Nhà tui có 12 đứa con, trước tui không hình dung nổi cây lúa nước ra sao, nhưng nay thì gắn kết rồi. Làm lúa nước khoẻ lắm, không cực như đi rẫy!”.
Sau 2 năm, 4 vụ mùa, phần lớn người Rục ở Thượng Hoá đã thạo lưỡi liềm, quen đường cấy. Ông Cao Tiến Thuỳnh là người đi đầu trong việc hưởng ứng làm lúa nước, tự hào: “Giờ giao ruộng cho tui là khá yên tâm rồi, lịch thời vụ, chăm bón, phun thuốc tui đã quen gần hết”. Vụ đông xuân vừa rồi, nhà ông Thuỳnh được gần 1 tấn thóc. Là Bí thư chi bộ bản nên ông Thuỳnh hưởng ứng dự án lúa nước của bộ đội lắm. Những ngày đầu, chính ông dám dắt con trâu của mình ra ruộng cho bộ đội cày.
Trong lúc đó, quan niệm của người dân ở đây là con trâu không dùng để cày ruộng. Rồi những ngày đầu khi triển khai thử nghiệm trồng lúa, những người lính phải miệt mài hướng dẫn từng đường cày, đường cấy, vận động mọi người cho quen dần với cây lúa. Những vất vả dần qua khi sản phẩm thu về làm cho bà con tin tưởng. Hiện, dự án lúa nước Rục Làn đang phục vụ cho 115 hộ tham gia sản xuất. Lúc đầu, đồn tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã, bây giờ dần chuyển qua chế độ khoán để tiến tới chuyển giao ruộng lúa cho người dân.
Nhìn những bao lúa sắp đống trong nhà, ông Cao Tiến Trực phấn khởi: “Trước làm rẫy không có khi mô được nhiều lúa như ri. Có mùa còn phải ăn củ rừng thay gạo nữa. Mình mừng lắm!”. Nhà ông Trực có 8 người con, 2 năm về trước, mười miệng ăn trong nhà ông phải lao đao vì cái đói. Bộ đội, chính quyền hỗ trợ, nhưng rồi không đủ. Từ khi có dự án về bản, cả nhà ông nghỉ làm rẫy. Cứ nghe loa thông báo giờ làm của bộ đội là cả nhà lục tục kéo nhau ra đồng vui như hội.
Theo lời Đồn trưởng Bình, vụ hè thu năm 2011 dù bị ảnh hưởng của mưa lũ, nhưng năng suất lúa đạt khá cao, trung bình 4 tấn/ha. Sau vụ lúa này, đồn sẽ rút thêm kinh nghiệm để đảm bảo cho vụ mùa sau thắng lợi hơn. Đồn cũng đã tổ chức khảo sát các vùng đất tại xã Hoá Sơn, huyện Minh Hoá để mở rộng phát triển cây lúa nước trong vùng lõm núi đá vôi.
 |
|
Trung tá Trịnh Thanh Bình vui “mùa vàng” cùng dân bản Rục. .
|
Đổi thay cùng cây lúa
“Quê hương ơi có gì đẹp hơn thế/ Bông lúa hẹn hò những mùa gặt...” - những câu hát trong bài “Hát về cây lúa hôm nay” của nhạc sĩ Hoàng Vân hôm nay cứ réo rắt mãi bên những sườn núi đá dựng đứng. Đồn trưởng Bình chia vui: “Từ khi có dự án lúa nước về bản, đời sống vật chất của bà con ngày càng ổn định. Cũng từ đó, việc thay đổi nhận thức làm ăn ngày càng rõ lắm”.
Còn Bí thư Thuỳnh thì không hết phấn khởi: “Cùng làm việc với bộ đội, được học hỏi và tiếp thu những tiến bộ của văn minh, dân bản sướng bụng lắm”. Những ngày trước, người Rục chỉ biết lên rừng kiếm miếng ăn, bữa đói bữa no nên chưa nhiều người nghĩ đến việc chăm sóc bản thân, quan tâm thôn bản. Bây giờ, cùng với hoạt động kinh tế mới, tiết kiệm được đồng tiền, ai cũng nghĩ đến việc trau dồi kiến thức cho lớp trẻ.
Chị Hồ Thị Hồng - Hội trưởng Hội Phụ nữ bản Mò o ồ ồ - tâm sự: “Em lấy chồng từ năm 17 tuổi, giờ có điều kiện tham gia sản xuất, em sẽ cố gắng tích góp tiền để cho con theo học đến nơi đến chốn”. Những thời gian rảnh rỗi, chị Hồng lại đến tận từng nhà trong bản để tuyên truyền về kế hoạch hoá gia đình cho từng chị em. Có lúc, chị cùng bộ đội dạy kiến thức cho các em nhỏ. Hiện, con em người Rục đang tham gia học tập tại Trường TH Yên Hợp và Trường THCS Thượng Hoá. Con em đồng bào đã có một người học ở Trường ĐH Quảng Bình, một em theo học trung cấp an ninh.
Trước đây, đường vào các bản Rục không được thanh quang sạch sẽ như bây giờ. Nhờ sáng kiến của đồn biên phòng gom phân gia súc đổi lúa, nên ai cũng ý thức thu gom. Sắp tới đây, cùng với việc phát triển diện tích lúa, Đồn 585 đang có kế hoạch phát triển chăn nuôi gia súc kết hợp trồng rừng cho bà con. Đồn cũng đang cho trồng thử nghiệm 0,5ha caosu, nếu thành công sẽ cho triển khai trồng đại trà...
Một làn gió mới đang về trên các bản đồng bào người Rục. Một tương lai tươi đẹp hứa hẹn sẽ đến với con cháu của những “người rừng” trên cực tây Quảng Bình. Một sự gieo duyên kỳ diệu giữa “người rừng” và lúa nước đang đến kỳ cho quả ngọt!
BN (Nguồn: Báo Lao động)