Làm rẫy ở chiến khu
(LV) - Làm rẫy là phương thức canh tác nhiều đời của các dân tộc miền núi. Trong kháng chiến chống Mỹ, vì gạo đưa từ đồng bằng lên hoặc từ miền Bắc vào không đủ ăn nên cán bộ, bộ đội ở chiến khu cũng phải làm rẫy để có cái ăn.
Mỗi cơ quan, đơn vị đều phải tự túc lương thực mấy tháng trong năm. Cơ quan C.9 (Nhà in Báo Cờ Giải phóng) thời đó là đơn vị nổi tiếng về phong trào sản xuất tự túc, tự cấp. Đơn vị luôn có hai bộ phận: bộ phận làm chuyên môn và bộ phận sản xuất. Cứ thế, theo sự phân công của Thủ trưởng, anh em trong đơn vị thay phiên nhau đi làm rẫy.
Hàng năm, ăn tết xong là anh em trong đơn vị kéo ra núi bắt tay khởi đầu mùa rẫy mới. Dụng cụ phát rẫy là rựa và rìu. Bước đầu làm rẫy này gọi là dọn chân. Thường là rẫy ở nơi có độ dốc cao nên phải dọn từ dưới thấp lên đầu rẫy. Cây chặt thường ngả theo hướng chân rẫy.
 |
Bộ đội biên phòng tăng gia sản xuất. Ảnh minh họa.
|
Dọn chân xong, tiến hành cốt (chặt) cây lớn. Cốt cây phải là người khỏe mạnh, rành cầm rìu. Trong đơn vị chỉ chọn được năm bảy người phụ trách khâu này.
Dọn rẫy là khâu nhọc nhằn nhất, phát chân còn dựa bóng cây to, dọn rẫy phải chịu nắng. Cây đang cháy dỡ dai lắm, chặt mẻ cả rựa. Chặt xong, ôm cây dồn đống đốt tiếp. Đường dốc, vác cây khổ sở vô cùng; tro, than bôi đen ngòm cả người, mặt mũi lọ lem...
Dọn rẫy xong đến cung đoạn trỉa. Sau trỉa một vài tháng thì làm cỏ. Sau khi làm cỏ một tháng thì có thể hái bắp non để nướng. Ở thượng du có loại bắp nếp dẻo, ngon. Đã bốn mươi năm rồi mà tôi còn nhớ mùi thơm của loại bắp nếp núi này.
Tháng bảy, tháng tám âm lịch là mùa thu hoạch. Lúa rẫy dài ngày, có thể năm sáu tháng mới chín. Chuẩn bị cho thu hoạch là các công việc: Dựng kho, đan cốt phơi lúa, đan teo nhỏ để suốt lúa, đan teo lớn để cõng lúa. Tất cả làm từ cây nứa, cây giang và cây mây rừng.
Kho được làm trong rừng gần nhà. Thời đó nhà cũng ở trong rừng, tránh máy bay nhìn thấy. Chúng tôi học đồng bào làm kho. Không chỉ làm kho, tất cả các khâu sản xuất đều giống đồng bào cả.
Lúa chín đến độ cọng lúa không còn dai mới tiến hành suốt lúa. Lúa phơi qua một nắng, còn ẩm nhưng phải cõng đổ kho. Không thể phơi nhiều hơn, vì rất dễ bị máy bay rà phát hiện thả bom, bắn chết người, mất lúa. Lúa chưa khô, đổ vào kho dễ hỏng. Nhưng nhờ kinh nghiệm làm kho của đồng bào, lúa ẩm mà không hỏng. Vì, lúa suốt còn dé, đổ vào kho rất xốp. Thêm nữa, có nhiều ống thông hơi đan bằng nứa, đặt dựng đứng nhiều chỗ trong kho, lúa có độ xốp bốc hơi qua ống khô dần. Dù sao đi nữa bảo quản theo cách này, lúa còn ẩm cũng mau hẩm. Nhưng trong thời buổi chiến tranh, khó có cách khác .
Đưa hết lúa vào kho là mùa rẫy kết thúc. Người Ca Dong có tục lệ cúng lúa mới. Họ giết heo, gà cúng, ăn thỏa mái. Tôi để ý, ngày mùa dân làng béo lên hơn nhiều, vì có gạo lúa mới ăn no. Người Ca Dong có đời sống rất hồn nhiên, thỏa mái, nguyên sơ. Mùa có lúa gạo, họ ăn, cho, đổi rất hào phóng. Mùa giáp hạt, lao động nặng nhưng lại thiếu gạo, ăn sắn là chính. Anh em chúng tôi luôn ăn theo tiêu chuẩn, dành gạo cho đơn vị đủ tự túc trong năm. Nói vậy chứ lúa gạo do tự đơn vị sản xuất được nên chị nuôi cũng nới tay, còn sắn, bắp thì tự do. Đêm đến, sẵn củi rừng chất lửa nướng ăn thỏa mái, hát hò vui lắm.
Đã bốn mươi năm trôi qua không ở Trường Sơn, nhưng ký ức của những ngày sống cùng đồng đội, đồng chí, cùng đồng bào Ca Dong đôn hậu trong năm tháng kháng chiến luôn khắc sâu trong tâm trí tôi. Chỉ có một điều băn khoăn rằng - Những người đã từng tham gia kháng chiến, từ khi xuống núi đến nay chưa làm được gì nhiều cho đồng bào. Tuy đã có ruộng nước ở vùng cao, nhưng phần lớn đồng bào vẫn còn canh tác lúa rẫy. Điều kiện địa thế rừng núi Quảng Nam rất khó thay đổi phương thức canh tác này.
Làm rẫy cực mà không dễ kiếm ra hạt lúa. Nếu như phát rẫy rừng già như chúng tôi ngày ấy thì phạm tội phá rừng. Ngày xưa vì điều kiện bất khả kháng phải làm vậy. Bây giờ thời thế đã thay đổi, phá rừng nguyên sinh làm rẫy là tội lớn. Đồng bào loanh quanh làm ba cái rẫy non, năng suất càng thấp. Để thay đổi phương thức canh tác của người dân tộc vùng cao là chuyện lâu dài. Phương thức canh tác nương rẫy là nét văn hóa sản xuất đặc thù của rừng núi. Nhưng phương thức này đã quá lạc hậu. Thế hệ trẻ cả kinh lẫn thượng đều trông mong phương thức canh tác này nhanh trở thành ký ức văn hóa mà thôi. Chúng ta tin, các thế hệ nối tiếp nhau sống trong nền khoa học - công nghệ hiện đại sẽ có cách để vùng cao thoát được cảnh phát rừng làm rẫy, quá cực nhọc mà kém hiệu quả như xưa và nay...
Phạm Thông