21:29 | 23/01/2012

Làng Việt trong tâm thức người Việt

(LV) - Cùng với cây đa, bến nước, sân đình thì lũy tre làng, cổng làng, giếng làng là biểu tượng của rất nhiều làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Những hình ảnh ấy đã ăn sâu vào tâm thức của biết bao thế hệ người Việt, góp phần làm nên bản sắc văn hóa, truyền thống và hun đúc nên nhân cách của con người Việt Nam.

 

Lũy tre làng

Lũy tre làng là danh giới hành chính của một xóm, một làng hoặc một thôn nằm trong địa bàn một xã. Ở trong lũy tre làng ấy có khoảng vài trăm hộ hoặc nhiều hơn thì một hai nghìn hộ dân. Ngoài lũy tre làng là cánh đồng canh tác lúa, ngô, khoai, sắn của người dân thôn quê.

Những hình ảnh quen thuộc ở làng quê vào mùa vụ mà chúng ta thường thấy, đó là các bác nông dân ra đồng với cái cày trên vai, đi trước là con trâu. Những buổi trưa hè nắng nóng, trên đường đi làm về, tới đầu làng, bác nông dân thường buộc trâu vào bụi tre cho nó trú nắng, còn các bác xúm lại, ngồi bệt trên tàu lá chuối vừa cắt trên cây, ngồi nghỉ ngơi hóng mát, rồi làm vài điếu thuốc lào, xả khói vấn vương.

Thế hệ cụ tôi, ông nội tôi đã từng sống trong lũy tre làng. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, lũy tre làng ở nhiều nơi đã trở thành pháo đài chống giặc, ghi nhiều chiến công. Đất nước hòa bình, cha tôi chuyển sang công tác ở tỉnh, sau này về huyện… Đến thế hệ anh em tôi lớn lên, được cha mẹ cho ăn học, rồi đi làm, mỗi đứa lập nghiệp mỗi nơi, chẳng đứa nào chịu về làng làm ăn, sinh sống.

Dẫu vậy, bao đời nay, lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa làng, một thứ không thể thiếu trong mỗi làng quê nước Việt.

Cổng làng

Làng Việt trước đây thường có một lối đi vào chính, gọi là cổng làng. Cổng làng quê Việt thường có 02 cổng: Cổng trước hay cổng tiền và một lối nhỏ hơn gọi là cổng sau. Lối đi từ cổng trước đến cổng sau là con đường chính trong làng.

Cổng là ranh giới ước lệ, là biểu hiện quyền uy của làng xóm. Có làng còn dựng cả bia với các chữ Nho ở bên cổng để nhắc nhở ai qua cổng, ngay cả những người quyền quý cũng phải xuống ngựa, xuống xe để tỏ ý tôn trọng lệ làng.

Thời loạn lạc, cổng làng được đóng kín, nhất là ban đêm, lại có thêm tuần phu canh gác rất nghiêm cẩn. Cổng trước mang nhiệm vụ nghênh tiếp, cổng sau hàm ý tiễn đưa. Ví dụ như người chết thì sẽ được đưa ra bãi tha ma bằng cổng sau hoặc người bị làng phạt vạ vì tội gì đó thì cũng phải đi cổng sau.

Thường cổng làng có dạng Cổng Tam quan (còn gọi là Tam môn), tức ba lối đi: một lối chính và hai lối ngách. Lối ngách dùng đi lại hàng ngày, chỉ khi có nghi lễ, việc quan trọng mới mở lối cửa giữa. Cổng trước thường xây to lớn hơn, trên trán cửa làm như bức hoành phi, ghi tên làng hoặc một câu liên quan đến địa phương. Theo thuật phong thủy, lý tưởng nhất là cổng trước nhìn ra hướng Đông, còn cổng sau nhìn ra hướng Tây. Vật liệu xây cổng làng thường là gạch hoặc đá, đắp thêm vữa, bên trên làm mái. Có nơi cầu kỳ thì làm hai tầng mái (chồng diêm) hoặc xây gác giống như vọng lâu với mái cong. Nóc mái có đắp rồng, phượng, hay cá hóa long, quả bầu .v.v. Làng nghèo thì cổng làm khá đơn giản, chỉ bằng gạch, gỗ tre.

Cổng làng là sản phẩm kiến trúc cổ của người Việt Nam. Người sống sau cái cổng làng, người chết thì chôn bên ngoài cái cổng làng. Vì thế, cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người Việt Nam.

Giếng làng

Giếng làng thường nằm trong quần thể không gian kiến trúc đình chùa, dù làng đó giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù xây bằng gạch, đất hay đá ong, thì giếng làng vẫn là nơi gắn bó lâu bền với đời sống người dân làng quê Việt và mãi là hình ảnh thân thương, gần gũi trong tâm thức mọi người khi nhớ về làng quê. Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình ảnh giếng làng cứ đi về trong nỗi nhớ của những người xa quê. Cái giếng có mặt trong đời sống của người Việt từ xa xưa, có lẽ bắt đầu từ câu chuyện cổ tích khi cô Tấm nuôi con cá bống. Rồi giếng thành huyền thoại khi Trọng Thủy gieo mình tự vẫn, giải oan cho tình yêu của nàng Mỵ Châu với "trái tim lầm lẫn để trên đầu"…

Giếng làng thường có hai loại chính: giếng đất và giếng đá. Cái giếng giữ phần âm của làng. Bản thân cấu trúc hình tròn, chiều sâu đi vào lòng đất, vị tanh hơi ngọt và độ lạnh của nước giếng đã nói lên điều đó. Hơn nữa, giếng đôi khi còn là cái gì đó linh thiêng và thần bí. Trên đền Hùng giờ vẫn còn giếng Ngọc. Các bà các cô bảo nhau: nếu ngọc trai vớt ở sông đem đến đây rửa sẽ rất sáng và đẹp.

Trong tâm thức của người Việt, giếng làng không chỉ là con mắt của đất, nó là trái tim của làng, là cái hồn của xóm mà nó còn là nơi tụ hội nguồn sống, là mạch ngầm, là nơi tích phúc cho dân làng ăn nên làm ra. Trong sinh hoạt đời thường, người ta lấy nước giếng về dùng trong sinh hoạt, giếng còn làm gương soi cho các cô gái làm duyên mỗi khi ra đó gánh nước về dùng.

Cái giếng làng còn chứng kiến bao nhiêu cuộc tình của nhiều thế hệ. Dân gian nhiều lần mượn nó mà ngỏ lòng. Lúc thì nhỏ nhẹ: "Năng mưa thì giếng năng đầy/ Anh hay đi lại mẹ thầy năng thương"; hoặc có lúc lại giận hờn, trách cứ: "Em tưởng giếng sâu em nối sợi dây dài/ Đâu ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây" .v.v.

Ngày nay, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với điện khí hóa nông thôn, đặc biệt sự phát triển từ làng lên phố ở khá nhiều làng quê, đã làm cho những chiếc giếng làng hầu hết đã trở thành di tích/phế tích. Tuy vậy, giếng làng - người bạn tri ân bao đời nay ở vùng thôn quê vẫn mãi là những hình ảnh thân thương, gần gũi và rất khó phai mờ trong tâm thức mọi người khi nhớ về làng quê Việt Nam.

Hữu Giới

Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email    
Tiêu đề  


Mã xác nhận  
Phản hồi  
 Off  Telex  VNI  VIQR
Tài liệu đính kèm: (.gif, .jpg, .png, .jpeg, .doc, .docx, .xls, .xlsx, .zip, .rar)
 
Ý kiến độc giả

Sự kiện nào được quan tâm nhiều nhất?

  •   Khai trương Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam
  •   Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
  •   Bầu chọn Vinh Hạ Long là kì quan thiên nhiên thế giới
  •   Việt Nam vận động đăng cai ASIAD 18
  •   Bầu chọn Quốc hoa Việt Nam
Loading
Analyse website at Cancanit
Langvietonline.vn
1 2 3 4 5
Review This Site