Hương vị cỗ Tết trong tâm hồn người Việt
(LV) - Ngày Tết, dù to, dù nhỏ, nhà nhà đều làm cỗ. Vì thế, Tết đến, dẫu là người cao sang, giàu có hay nghèo hèn, kể cả những kẻ vô gia cư, lang thang, ai cũng đều cảm nhận được hương vị của Tết.
Xưa, người ta chuẩn bị để ăn Tết từ rất sớm. Bắt đầu từ tháng Chạp (tháng 12 âm lịch). Nào là chuẩn bị muối dưa hành, nén dưa cải cả cây, nào là trữ sẵn gà trống hoa (để cúng giao thừa), gà trống thiến, nuôi con lợn, lứa cá dưới ao, rồi gạo nếp, đỗ xanh, lá dong (gói bánh chưng), lá chuối (gói giò)… Tất cả đều được ngắm nghía dành dụm chuẩn bị cho mâm cỗ tết.
Với người Việt bàn thờ tổ tiên là nơi linh thiêng, nơi dung tụ cốt cách của từng gia đình và cũng mang bóng dáng chung của đời sống tâm linh, của tâm hồn dân tộc. Vì thế người Việt luôn có ý thức dồn vào đó tất cả những gì đẹp nhất có thể, nhất là sự tôn kính, trang nghiêm. Sau khi đã làm mâm cỗ đạm bạc vào ngày 23 tháng Chạp để tiễn Ông Táo về trời, tâu lại việc làm ăn cư xử của gia đình trong năm với Ngọc Hoàng. Ấy là lúc Tết đã bắt đầu. Chiều 30 tết dù nghèo khó đến mấy người ta cũng cố gắng để làm một mâm cỗ tươm tất mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ… về ăn Tết, gọi là cỗ cúng tất niên. Đấy là lúc nhà cửa đã dọn dẹp đâu vào đấy, mọi công việc của năm qua cũng đã gác lại, cành đào hồng thắm thanh thoát, rạng rỡ đã yên vị trong lọ lộc bình; vài tờ tranh Đông Hồ cùng đôi câu đối đã phất phơ trên vách. Mâm ngũ quả đã bày biện nghiêm trang trên ban thờ. Mâm ngũ quả truyền thống mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và cũng là sự thể hiện nhiều triết lý nhân sinh của cuộc sống. Nải chuối tiêu xanh (nhiều quả, sai trái để cầu mong sự xum xê, đuề huề, lắm con nhiều cháu, màu xanh biếc của nải chuối cầu mong sự vĩnh cửu. Màu vàng ươm cùng mùi hương thơm ngát từ trái bưởi tròn căng cầu mong sự no đủ, giàu sang, viên mãn. Màu đỏ tươi của trái hồng, trái quýt cầu mong sự may mắn. Trái Phật Thủ rắn chắc cầu mong cho cánh tay khoẻ mạnh, chân cứng đá mềm để con người đủ sức lực vượt qua mọi khó khăn vươn tới cuộc sống ngày càng ấm no… Tuỳ từng vùng mà mâm ngũ quả ngoài nải chuối gần như bắt buộc còn lại các loại quả có thể thay đổi nhưng bao giờ cũng phải đầy đủ năm thứ quả.
|
Con số 5 trong mâm ngũ quả với người Việt bao hàm một ý nghĩa đặc biệt: Đó là thể hiện của nhiều đạo lý trong cuộc sống. Năm có nghĩa là Ngũ luân (Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí – Tín), là Ngũ thường (Quân – Thần, Phụ - Tử, Huynh – Đệ, Phu – Thê, Bằng - Hữu). Mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên ngày Tết như một sự tự nhắc nhở, tự sửa mình, là lời hứa của con cháu trước tổ tiên: Sống theo đạo lý, tôn thờ đạo lý và cũng là để cầu mong cho gia đình được hưởng đủ Ngũ phúc: Phúc – Lộc – Thọ - Khang – Ninh.
|
Mâm cỗ cúng tất niên kính cẩn đặt lên ban thờ, bao giờ cũng được bày biện cẩn thận, đẹp mắt. Nấu nướng đã công phu, bày cỗ cúng là một nghệ thuật. Vì số lượng món ăn trên mâm cỗ nhiều nên phải sắp đặt sao cho các món ăn được hài hoà về độ cao thấp, về màu sắc, về hương vị…
Thông thường mâm cỗ được bày theo cách: bát nước mắm để chính giữa mâm, đặt đĩa xôi lên trên; xung quanh bày cách đều và đối xứng các bát. Vành mâm đặt bốn hoặc sáu bát ăn cơm úp trên khăn giấy, bên phải để đôi đũa hướng vào tâm mâm, bên trái là chén uống rượu. Bánh chưng trong mâm cỗ cúng ngày Tết thường được bóc, cắt thành tám miếng chéo góc, như vậy miếng nào cũng đều nhân và vỏ. Màu bánh xanh rờn bên cạnh đĩa gà luộc vàng ươm hay đĩa xôi gấc đỏ tươi, đĩa giò xào màu nâu của lưỡi lợn, màu trắng của mỡ, màu đen của mọc nhĩ đặt bên cạnh đĩa hành muối trắng nõn… Tất cả khiến cho mâm cỗ có màu sắc rực rỡ tự nhiên thật hấp dẫn. Có người ví mâm cỗ Tết như một bức tranh tĩnh vật. Mà đúng thế thật, cỗ Tết là bức tranh thơm thảo, hiếu nghĩa con cháu kính dâng ông bà tổ tiên, là bức tranh của sự xum vầy, đoàn tụ.
Sắp mâm cỗ cúng, bày biện đâu ra đấy rồi, gia chủ cẩn trọng vuốt lại nếp áo dài, cái khăn rồi chắp tay kính cẩn trước bàn thờ gia tiên, lâm râm cầu khấn. Khấn xong, các thành viên trong gia đình lần lượt tới trước bàn thờ chắp tay, thành tâm khấn vái, một lòng mong tổ tiên, ông bà… về xum họp chung vui trong những ngày Tết. Tàn tuần hương, mâm cỗ được hạ xuống, cả gia đình, có khi cả bạn hữu, xóm giềng quây quần ăn uống vui vẻ. Mọi người đều thấy lòng ấm áp lâng lâng trong khói hương lan toả. Ai cũng thấy như những người thân yêu đã khuất bóng vẫn hiện diện đâu đây, gần gũi, sum vầy ấm áp tình cảm gia đình.
Từ lúc ấy, khói hương trầm trên bàn thờ lúc nào cũng ngào ngạt. Sáng mồng một Tết mọi nhà đều sửa soạn bữa cỗ để dâng cúng tổ tiên và cứ như thế liên tục mỗi ngày một mâm cỗ cúng với nhiều hương vị khác nhau.
Bữa cỗ "thôi Tết" là cỗ "tiễn các cụ ra đồng". Tuỳ từng nhà, sớm thì ngày mồng ba, hoặc mồng bốn, mồng năm, cũng có nhà nấn ná đợi đến ngày mồng bảy, ngày hạ cây nêu mới chịu "tiễn ông bà đi". Cũng một mâm cỗ kính cẩn đặt trên bàn thờ, cùng bài văn khấn lâm râm có vần, có điệu, mong cho vong linh ông bà được mát mẻ nơi chín suối, phù hộ độ trì cho các cháu làm ăn "xuôi chèo mát mái", gặp nhiều may mắn… Cũng từ lúc đó, trong tâm linh của mỗi người lại như bâng khuâng, phảng phất nỗi trống vắng: rất vu vơ, rất mơ hồ, dù những búp đào thắm đã he hé khoe duyên, dù nắng xuân đã hây hây trước ngõ và một năm mới đã bắt đầu. Lòng lại hẹn lòng, chờ đến ngày Tết sang năm.
Nguyễn Thị Đức